Hỏi về tội sử dụng trái phép tài sản

Điều 142 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội sử dụng trái phép tài sản như sau:

Anh họ tôi là trưởng bộ phận kinh doanh của 1 công ty. Trong thời gian làm việc tại đây, anh tôi có thu tiền của khách hàng với số tiền 240 triệu nhưng vì điều kiện hoàn cảnh gia đình(mẹ bị bệnh tim nặng, em trai bị tai nạn giao thông, vợ mới sinh con đầu lòng…) nên anh đã dùng số tiền trên để trang trải cho gia đình, do đó anh chưa nộp tiền của các khách hàng cho công ty. Nay công ty làm đơn tố cáo hành vi của anh tôi lên Công An Quận nơi công ty đóng trụ sở kinh doanh. Vậy cho hỏi: anh tôi bị kết tội gì và mức phạt sẽ như thế nào? Nhờ luật sư tư vấn giúp để tôi hiểu rõ hơn. Chân thành cảm ơn!

Trả lời:
1. Quy định của pháp luật về hành vi cấu thành tội sử dụng trái phép tài sản
Điều 142 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội sử dụng trái phép tài sản như sau:
“1. Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:
a) Phạm tội nhiều lần;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội gây hậu qủa đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”

2. Hành vi của anh trai bạn có cấu thành tội sử dụng trái phép tài sản không?
– Theo những thông tin mà bạn cung cấp thì rõ ràng anh trai bạn đã sử dụng trái phép số tiền của khách hàng với mục đích cá nhân. Tuy nhiên hậu quả của hành vi đó phải là hậu quả nghiêm trọng thì hành vi sử dụng trái phép tài sản mới cấu thành tội phạm, nếu hậu quả gây ra chưa phải là nghiêm trọng thì người có hành vi sử dụng trái phép phải là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép tài sản hoặc đã bị kết án về tội sử dụng trái phép tài sản thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép tài sản.
Nếu hậu quả đó là hậu quả rất nghiêm trọng thì đó là tình tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c khoản 2 của điều luật.
– Như vậy, ngoài giá trị tài sản bị sử dụng trái phép thì hành vi sử dụng trái phép tài sản còn phải gây ra hậu quả nghiêm trọng thì hành vi sử dụng trái phép tài sản mới cấu thành tội phạm. Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Còn nếu không thuộc các trường hợp nêu trên thì anh bạn chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự.
Được coi là gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi sử dụng trái phép tài sản gây ra nếu:
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một người có tỷ lệ thương tật từ 21% đến 40%;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả mọi người từ 21% đến 40%
+ Gây thiệt hại về tải sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
+ Ngoài thiệt hại về sức khoẻ, tài sản, còn những thiệt hại khác như gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang cho nhân dân trong một địa bàn nhất định…Những thiệt hại này, tuỳ từng vụ án cụ thể mà các cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào tình hình cụ thể để xác định đã là hậu quả nghiêm trọng chưa, nếu tổng hợp các tình tiết mà xác định đã gây ra hậu quả nghiêm trọng thì người sử dụng trái phép tài sản mới bị coi là phạm tội sử dụng trái phép tài sản.